Ngày trước, ở một làng bên sông có hai anh em ruột. Cha mẹ mất sớm, để lại một ngôi nhà ba gian, mấy sào ruộng và một con trâu.
Người anh lúc ấy đã có vợ. Đến ngày chia gia tài, anh ta ngồi giữa nhà, nói rằng mình là con cả, sau này phải lo hương khói, phải gánh việc họ hàng, ma chay giỗ chạp, phần nặng thì phải nhận phần lớn. Nói xong, anh ta nhận nhà, nhận ruộng, nhận trâu. Phần chia cho người em là cái chái bếp ở góc vườn và một cây khế.
Người em nghe hết, không cãi câu nào. Hôm sau, anh ta dọn ra chái bếp, chằng lại mái, quây thêm mấy tấm phên cho kín gió, rồi ở luôn ngoài đó.
Cây khế đứng ngay trước cửa chái. Gốc to bằng bắp đùi, cành xoè thấp, lá nhỏ, mỗi năm ra hoa tím hai lần.
Người em chăm cây khế như chăm một người trong nhà. Sáng gánh nước tưới, chiều xới đất quanh gốc, thấy sâu thì bắt, thấy cành nào trĩu quá thì lấy cây chống đỡ. Đến mùa, khế chín vàng, quả nào cũng năm múi đều nhau, ăn giòn, chua thanh. Anh ta hái đem ra chợ bán, mỗi phiên được dăm ba đồng, đong gạo ăn qua ngày, cũng chưa bữa nào phải nhịn.
Một buổi sáng, người em ra vườn thì thấy cả cây khế rung mạnh. Trên ngọn có một con chim rất lớn, lớn hơn con ngỗng nhiều lần, lông sẫm, mỏ khoằm, đang thản nhiên ăn khế. Nó ăn nhanh và ăn nhiều, mỗi lần mổ là rụng xuống đất mấy cái cuống.
Người em đứng dưới gốc, ngửa mặt lên nói:
— Chim ơi, cả gia tài tôi chỉ có mỗi cây khế này. Chim ăn hết thì tôi lấy gì mà sống.
Con chim ngừng mổ, quay đầu nhìn xuống. Rồi nó nói, tiếng rõ như tiếng người:
— Ta ăn quả của ngươi thì ta trả bằng vàng. Ngươi về may một cái túi, đo đúng ba gang tay, sáng mai đem ra đây. Ta chở ngươi đi lấy.
Nói xong nó vỗ cánh bay đi, gió từ cánh nó thổi tốc cả mấy tàu lá chuối ngoài bờ ao.
Người em vào nhà, lục ra tấm vải nâu vá áo còn thừa, ngồi khâu đến tối thì xong cái túi. Anh ta xoè bàn tay đo lại ba lần cho chắc: đúng ba gang, không hơn.
Sáng hôm sau chim đến thật. Nó hạ xuống sân, nằm rạp cánh cho người em trèo lên lưng.
Chim bay suốt buổi. Dưới cánh nó là làng, rồi ruộng, rồi rừng, rồi một vệt nước xanh mở ra mãi không hết. Quá trưa thì nó đáp xuống một hòn đảo giữa biển.
Đảo ấy không có cây. Chỉ có đá, và trong đá lẫn vàng. Vàng nằm phơi ra như sỏi trên lối đi, chỗ nào nắng chiếu vào thì lấp lánh đến chói mắt.
Người em mở túi, nhặt vàng bỏ vào. Đầy túi thì anh ta buộc miệng túi lại, đứng lên, phủi tay. Xung quanh vẫn còn vàng, nhiều đến mức nhặt cả tháng cũng không hết. Anh ta không nhặt nữa.
Chim chở anh ta về đến sân thì trời vừa tối.
Từ chỗ vàng ấy, người em mua lại được mấy sào ruộng, dựng một ngôi nhà ngói, rồi cưới vợ. Nhưng anh ta không phá cái chái bếp, cũng không đốn cây khế. Chái bếp để làm chỗ chứa nông cụ, còn cây khế thì vẫn đứng nguyên chỗ cũ.
Tin ấy đến tai người anh rất nhanh. Anh ta sang chơi, ngồi uống nước, hỏi vòng vo một lúc rồi hỏi thẳng. Người em kể lại từ đầu đến cuối, không giấu chi tiết nào, kể cả chuyện cái túi ba gang.
Người anh nghe xong thì đặt chén xuống, nói ngay:
— Chú đổi cho tôi. Tôi trả chú cả nhà, cả ruộng, cả trâu, chú lấy hết. Tôi chỉ xin cái chái bếp với cây khế.
Người em can. Người anh không nghe, hôm sau đã cho người khiêng đồ sang. Cuối cùng người em phải chịu.
Người anh dọn ra chái bếp ở. Anh ta không tưới cây, không xới gốc, không bắt sâu. Cả ngày anh ta kê ghế ngồi trước cửa, nhìn lên ngọn khế. Mùa ấy khế vẫn chín, nhưng không ai hái, quả rụng đầy gốc, kiến bu đen.
Chờ gần hết mùa thì chim về.
Người anh nhảy khỏi ghế, chạy đến dưới gốc, ngửa mặt lên kêu rằng cả gia tài anh ta chỉ có mỗi cây khế này, chim ăn hết thì anh ta lấy gì mà sống. Câu ấy anh ta đã nhẩm trong đầu nhiều ngày, nên nói ra trôi chảy, không vấp một chữ.
Con chim trả lời đúng như nó đã trả lời lần trước: về may một cái túi ba gang, sáng mai đem ra đây.
Đêm ấy chái bếp thắp đèn đến khuya. Vợ chồng người anh không may túi ba gang. Họ lấy vải bạt dày, khâu đúp hai lớp chỉ gai, may một cái túi mười hai gang. Chưa yên tâm, người anh còn khâu thêm mấy cái túi nhỏ vào vạt áo, vào ống tay áo, vào cạp quần, và tìm sẵn một sợi dây chão để buộc ngang lưng.
Sáng ra, chim chở anh ta đi.
Đến đảo, người anh nhặt vàng đổ vào cái túi mười hai gang cho đến khi không nhét thêm được nữa. Rồi anh ta nhét vàng vào túi áo, túi tay, cạp quần. Rồi anh ta bốc thêm hai nắm, mỗi tay một nắm, nắm chặt trong lòng bàn tay.
Chim đợi anh ta leo lên lưng rồi mới cất cánh. Lần này nó cất cánh chậm.
Ra đến giữa biển thì nó bay thấp dần. Nó bảo người anh vứt bớt xuống. Người anh nói vứt thì tiếc, để tôi giữ, chim cố thêm một quãng nữa thôi.
Chim cố thêm một quãng. Cánh nó đập chậm lại, thân nó chao sang một bên. Một cơn gió ngang đánh tới. Người anh trượt khỏi lưng chim, rơi xuống biển cùng cái túi mười hai gang, hai tay vẫn nắm chặt.
Con chim bay một vòng trên chỗ nước ấy, rồi bay đi.
Cây khế ở góc vườn thì vẫn ra hoa tím mỗi năm hai lần, như chưa từng có việc gì xảy ra.
Đọc chậm — chú giải
- gang
- đơn vị đo dân gian, bằng khoảng cách từ đầu ngón cái đến đầu ngón giữa khi xoè bàn tay, chừng hai mươi phân
- chái bếp
- gian nhỏ lợp thêm ở bên hoặc sau nhà chính, thường dùng làm bếp
- phên
- tấm đan bằng tre hoặc nứa, dùng để che vách
- sào
- đơn vị đo ruộng; ở Bắc Bộ một sào bằng 360 mét vuông
- hương khói
- việc thờ cúng tổ tiên, theo lệ thường do con trưởng lo
