Đời xưa có hai anh em nhà họ Cao, người anh tên Tân, người em tên Lang. Hai người giống nhau như đúc, đến mức người ngoài nhìn không phân biệt được ai là anh, ai là em.
Cha mẹ mất sớm, hai anh em đến ở nhờ nhà một ông thầy đồ họ Lưu. Ông thầy có người con gái đến tuổi lấy chồng. Cô gái quý cả hai người, nhưng muốn biết ai là anh để giữ đúng lễ. Một hôm cô dọn cơm, chỉ đặt một đôi đũa và một bát cháo. Cô đứng nhìn: người kia nhường cho người này ăn trước. Người được nhường là anh.
Cô gái lấy Tân. Vợ chồng ở với nhau thuận hoà. Lang vẫn ở cùng nhà.
Nhưng từ ngày có vợ, Tân bận bịu, không còn ăn cùng ngủ cùng với em như trước. Lang thấy mình thừa ra. Nỗi tủi cứ lớn dần mà không nói với ai.
Một buổi chiều, hai anh em cùng đi làm đồng về muộn. Lang về trước. Người vợ tưởng chồng, ở trong nhà chạy ra ôm lấy. Nhận ra nhầm, cả hai đều đỏ mặt lùi lại. Tân bước vào đúng lúc ấy, thấy hết.
Từ hôm đó Tân nhạt với em. Lang chịu không nổi, một đêm bỏ nhà ra đi.
Lang đi mãi, đi đến khi gặp một con suối rộng, không có đò. Trời tối, người mỏi, không còn đường nào nữa. Lang ngồi xuống bên bờ suối, khóc cho đến khi chết, hoá thành một tảng đá.
Tân ở nhà, hết giận thì thấy trống. Anh đi tìm em. Anh cũng đi đến con suối ấy, cũng không qua được, ngồi xuống bên tảng đá mà khóc. Anh chết bên cạnh, hoá thành một cây cau mọc thẳng, thân cao vút, không cành.
Người vợ đợi mãi không thấy chồng về, bỏ nhà đi tìm. Nàng cũng đến con suối, thấy tảng đá và cây cau, ngồi tựa vào gốc cau mà khóc. Nàng chết ở đó, hoá thành một dây trầu leo quấn lấy thân cau.
Người nhà đi tìm cả ba, đến nơi thấy đá, thấy cau, thấy dây trầu, mới hiểu ra. Họ lập miếu thờ ngay bên bờ suối.
Về sau vua đi qua, nghe kể chuyện, sai hái một quả cau, ngắt một lá trầu, lấy một chút vôi từ tảng đá, ăn thử. Ba thứ ấy riêng ra thì chát, thì cay, thì nồng; nhai chung lại thì thơm, và nhổ ra thì đỏ như máu.
Từ đấy người mình có tục ăn trầu, và trong lễ cưới hỏi, việc đầu tiên bao giờ cũng là buồng cau với lá trầu.
Đọc chậm — chú giải
- thầy đồ
- người dạy chữ Nho ở làng quê ngày trước
- họ Cao, họ Lưu
- trong bản chữ Nho, chữ Cao có nghĩa là cao lớn, chữ Lang trong tên người em cũng là chữ chỉ cây cau; người xưa đặt tên theo lối gợi ý như vậy
- vôi
- vôi tôi từ đá vôi, ăn trầu phải quệt một chút vôi vào lá trầu
- tục ăn trầu
- tục nhai chung ba thứ trầu, cau, vôi cho đỏ môi và ấm người, phổ biến khắp Đông Nam Á
